WIKIPEDIA - Cá độ bóng đá Mb88ag

Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015

Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015
Emblem of Vietnam.svg
Số ký hiệu77/2015/QH13
Ban hành bởiQuốc hội Việt Nam khóa XIII
Thông tin chung
Loại văn bảnLuật
NgànhNội vụ
NguồnLuật 77/2015/QH13
Cấu trúc8 chương
143 điều
Phạm viToàn quốc
Lược sử
Soạn thảoBộ Nội vụ
Ngày ban hành19 tháng 6 năm 2015
Tỷ lệ tán thành85,22%
Công báo26 tháng 7 năm 2015
Có hiệu lực từ1 tháng 1 năm 2016
Người ký chứng thựcChủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng
Người công bốChủ tịch nước Trương Tấn Sang
Liên quan
Văn bản trướcLuật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003
Sửa đổi, bổ sungLuật Quy hoạch 2017
Luật sửa đổi 47/2019/QH14
Văn bản hợp nhấtVăn bản 22/VBHN-VPQH
Trạng thái: Hiệu lực một phần

Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 (số ký hiệu: 77/2015/QH13) là đạo luật được ban hành năm 2015 bởi Quốc hội Việt Nam khóa XIII quy định về đơn vị hành chính và tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính tại Việt Nam, có hiệu lực một phần hiện hành. Trên bối cảnh các cơ quan ở địa phương được quy định bởi Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003, nhiều nghiên cứu đặt vấn đề và kiến nghị thay đổi, Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ra định hướng chỉnh sửa cấu trúc chính quyền địa phương tại Đại hội XXI, Luật này được xây dựng và ban hành, chính thức có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2016, khẳng định chính quyền địa phương gồm hội đồng nhân dânủy ban nhân dân, tách biệt chính quyền địa phương ở nông thôn và đô thị, quy định mới về "thành phố trong thành phố", đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt (SAEU).[a] Năm 2019, dựa trên đề xuất thực tế và định hướng của Đại hội XII, luật được sửa đổi, bổ sung một số điều khoản theo hướng tinh giản biên chế, mục đích là để chính quyền địa phương hoạt động linh hoạt theo tình hình những thay đổi của thực tế.

Luật này gồm tám chương, 143 điều, định nghĩa và phân loại đơn vị hành chính, chính quyền địa phương; quy định những gì mà hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân được làm, nguyên tắc phải tuân theo, trách nhiệm phải chịu, đều dựa trên nhiệm vụ, quyền hạn được giao, việc phân cấp, phân quyền, ủy quyền từ trung ương đến địa phương lẫn trong phạm vi từng địa bàn. Theo đó, chính quyền địa phương có nhiệm vụ bảo đảm việc thi hành Hiến pháp 2013 và pháp luật, phụ trách quyền lực nhà nước trong phạm vi địa bàn, giao cho hội đồng nhân dân thẩm quyền ban hành chủ trương, quyết định các lĩnh vực luật định, xây dựng ủy ban nhân dân, giao cho ủy ban nhân dân thẩm quyền thực thi các chủ trương, chính sách đã được luật định. Bên cạnh đó, cơ cấu tổ chức gồm đơn vị, chức danh, bộ máy giúp việc, tiêu chí, tiêu chuẩn chính quyền địa phương theo vùng nông thôn, đô thị, hải đảo, SAEU, hoạt động của chính quyền, thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính cùng tạo nên nội dung chính của luật này.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tình hình chung[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2003, Quốc hội Việt Nam khóa XI ban hành Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003 (Luật 2003), thay thế cho Luật 1994,[b] là đạo luật chính quy định về chính quyền địa phương, duy trì trong giai đoạn 2003–15 và không có văn bản sửa đổi hay bổ sung nào.[2][3] Trong quá trình thực thi, dựa trên thực tiễn là hoạt động của hội đồng nhân dânủy ban nhân dân các cấp và yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ theo từng giai đoạn, cơ quan giám sát đặt ra vấn đề cho rằng Luật 2003 bộc lộ những vấn đề cần được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung.[4] Những vấn đề bao gồm: quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân cơ bản giống nhau ở cả ba cấp tỉnh, huyện, ; chưa thể hiện tính gắn kết thống nhất giữa hai hệ thống cơ quan cùng cấp này, hội đồng nhân dân mang nặng tính hình thức;[5] chưa phân biệt theo đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo; chưa phân định rõ thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương với địa phương, và của mỗi cấp chính quyền địa phương; chính quyền cấp xã không có khả năng thực thi một số nhiệm vụ theo luật định; và chưa quy định rõ các vấn đề do tập thể ủy ban nhân dân thảo luận, quyết định và các vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của người đứng đầu tức chủ tịch ủy ban nhân dân.[6] Năm 2013, Hiến pháp thứ năm được ban hành, có những điểm mới về chính quyền địa phương, như: thực hiện phân công, phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước;[7] quy định đơn vị hành chính tương đương thuộc thành phố trực thuộc trung ương; quy định việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính;[8] quy định về tổ chức chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính;[9] quy định về phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương; về việc thực hiện nhiệm vụ được cơ quan nhà nước cấp trên giao.[10][11]

Trong thời kỳ này, định hướng của tổ chức chính trị cầm quyền tức Đảng Cộng sản Việt Nam là điều chỉnh lại chính quyền địa phương, phân biệt giữa chính quyền nông thôn, đô thị, hải đảo; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền các nhóm tổ chức, đơn vị.[12] Các văn kiện của Đảng và các chính sách của Nhà nước, cao nhất ở Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X (2006), XI (2011) đề cập tới vấn đề cần đổi mới tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước,[13] mục tiêu là điều chỉnh cơ cấu chính quyền địa phương cho phù hợp với những thay đổi chức năng, nhiệm vụ, phân biệt rõ những khác biệt giữa chính quyền nông thôn và chính quyền đô thị để tổ chức bộ máy phù hợp; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng và kiểm tra hoạt động của bộ máy chính quyền cơ sở.[14] Đã có một số thí điểm trên thực tế, như không tổ chức hội đồng nhân dân huyện, quận, phường;[15] thí điểm hợp nhất lãnh đạo cơ sở, bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân ở một số đơn vị hành chính;[16] đề án mô hình chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí MinhĐà Nẵng;[17] đề án về đặc khu kinh tế Vân Đồn, Vân Phong, Phú Quốc, đã đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu về mô hình tổ chức chính quyền địa phương các cấp cho phù hợp.

...nâng cao chất lượng hoạt động của hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc quyết định và tổ chức thực hiện những chính sách trong phạm vi được phân cấp. Nghiên cứu tổ chức, thẩm quyền của chính quyền ở nông thôn, đô thị, hải đảo.[18]

Soạn thảo, ban hành[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2014, Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam khóa XIII giao cho Chính phủ nhiệm vụ xây dựng văn bản luật mới về tổ chức chính quyền địa phương, theo đó, Chính phủ thành lập Ban soạn thảo dự án Luật Tổ chức chính quyền địa phương với trưởng ban là Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thái Bình, phó ban là Thứ trưởng Nguyễn Duy Thăng, phối hợp với các cơ quan liên quan.[19] Ngày 30 tháng 9 năm 2014, dựa trên nội dung của ban soạn thảo, Chính phủ trình tờ trình dự án luật này lên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tiến hành phiên họp thảo luận, đưa ra các ý kiến đánh giá và sửa đổi thẩm quyền thu, chi ngân sách nhà nước của chính quyền địa phương; lựa chọn phương án hướng dẫn tiêu chuẩn, tiêu chí về thành lập, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính, nhấn mạnh thẩm quyền quyết định thành lập, nhập, chia, điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh đã được chuyển từ Chính phủ sang cho Ủy ban thường vụ Quốc hội, do đó phương án hướng dẫn cần được bổ sung vào dự án.[20] Ngoài ra, Ủy ban không đồng ý với tờ trình của Chính phủ, khi dự án soạn rằng "dự thảo luật này điều chỉnh về tổ chức đơn vị hành chính, tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã); tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do Luật Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt quy định", Ủy ban cho rằng SAEU cũng là một loại đơn vị hành chính của Việt Nam, vì vậy, dự thảo luật cần quy định một số vấn đề có tính nguyên tắc về SAEU, đưa đơn vị này vào luật định, đặc biệt như điều kiện, trình tự thành lập, giải thể, mô hình tổ chức chính quyền địa phương tại các đơn vị này.[21]

Đúng theo tiến độ đề ra, dự thảo luật được chỉnh sửa theo ý kiến của Ủy ban, sau đó trình Quốc hội tại kỳ họp thứ chín vào tháng 6 năm 2015, được thông qua với tỷ lệ 85,22% vào ngày 19 tháng 6, được ký chứng thực bởi Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng.[22] Luật được đăng công bảo số 863+864 vào ngày 26 tháng 7 năm 2015, được Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ký lệnh công bố luật và chính thức có hiệu lực ngày 1 tháng 1 năm 2016.[23][24]

Cấu trúc[sửa | sửa mã nguồn]

Luật có tám chương, 143 điều, thay thế và chấm dứt hiệu lực của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003 từ ngày 1 tháng 1 năm 2016.[25] Có điều khoản chuyển tiếp, rằng, từ ngày luật có hiệu lực thi hành cho đến khi bầu ra hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2016 – 2021, thì hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân tại các đơn vị hành chính tiếp tục giữ nguyên cơ cấu tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật 2003. Bên cạnh đó, chấm dứt việc thực hiện thí điểm không tổ chức hội đồng nhân dân huyện, quận, phường; ủy ban nhân dân huyện, quận, phường nơi không tổ chức hội đồng nhân dân huyện, quận, phường tiếp tục giữ nguyên cơ cấu tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật 2003 cho đến khi bầu ra chính quyền địa phương ở huyện, quận, phường theo quy định của Luật này.[26]

Cấu trúc Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015
Chương Tên Điều Tổng
I Những quy định chung 1–15 15
II Chính quyền địa phương ở nông thôn 16–36 21
III Chính quyền địa phương ở đô thị 37–71 35
IV Chính quyền địa phương ở hải đảo 72–73 2
V Chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt 74–77 4
VI Hoạt động của chính quyền địa phương 78–128 51
VII Thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính 128–140 13
VIII Điều khoản thi hành 140–143 4
8 Tổng cộng 143

Nội dung chính[sửa | sửa mã nguồn]

Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dânỦy ban nhân dân được tổ chức ở các đơn vị hành chính của Việt Nam.

—Luật 77/2015/QH13, khoản 1 Điều 4.

Luật quy định về đơn vị hành chính và tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính. Với đơn vị hành chính, gồm cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt, quy định mới và đầu tiên về SAEU và thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương; được phân loại gồm loại đặc biệt là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh,[27] và chia loại I, II, III cho các đơn vị còn lại.[c][28] Phân loại nhằm hoạch định chính sách phát triển kinh tế – xã hội; xây dựng tổ chức bộ máy, chế độ, chính sách đối với nhân lực, dựa trên các tiêu chí về quy mô dân số, diện tích tự nhiên, số đơn vị hành chính trực thuộc, trình độ phát triển của các đơn vị đó. Với việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính theo thẩm quyền, cấp tỉnh thuộc về Quốc hội, cấp huyện, cấp xã thuộc về Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, đều do Chính phủ mà cụ thể là Bộ Nội vụ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng, trình đề nghị để thông qua, và đều lấy ý kiến cử tri.[29] Theo đó, cơ quan xây dựng đề án lấy ý kiến cử tri về vấn đề này, nếu có trên 50% tổng số cử tri trên địa bàn tán thành thì sẽ hoàn thiện đề án và gửi hội đồng nhân dân ở các đơn vị hành chính có liên quan để lấy ý kiến.[30] Trên cơ sở ý kiến của cử tri địa phương, hội đồng nhân dân ba cấp thảo luận, biểu quyết về việc tán thành hoặc không tán thành theo trình tự dưới lên trên, kết quả cấp xã được gửi đến cấp huyện, kết quả cấp huyện gửi đến cấp tỉnh, và cấp tỉnh được gửi đến Bộ Nội vụ để tổng hợp chung, báo cáo Chính phủ rồi trình Quốc hội, Ủy ban để ra quyết định cuối cùng.[31]

Nhiệm vụ, quyền hạn[sửa | sửa mã nguồn]

Cấp chính quyền địa phương gồm có hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân, hợp thức hóa Điều 11, Hiến pháp 2013, trong đó hội đồng nhân dân do cử tri ở địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân; ủy ban nhân dân do hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương; và cả hai cơ quan này đều có nghĩa vụ chịu trách nhiệm trước nhân dân và cơ quan nhà nước cấp trên.[32] Chính quyền địa phương ở nông thôn gồm chính quyền địa phương ở tỉnh, huyện, xã; và chính quyền địa phương ở đô thị gồm chính quyền địa phương ở thành phố trực thuộc trung ương, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, phường, thị trấn.[33]

Đại biểu hội đồng nhân dân cấp tỉnh[34]
Tỉnh thành[d] Số lượng
Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh 105
Tỉnh, thành trên 1.000.000 dân (thêm một đại biểu mỗi 50.000 dân có thêm) Tối đa 95
Tỉnh, thành dưới 1.000.000 dân 50
Tỉnh miền núi, vùng cao trên 500.000 dân (thêm một đại biểu mỗi 30.000 dân có thêm) Tối đa 85
Tỉnh miền núi, vùng cao dưới 500.000 dân 50

Hội đồng nhân dân tiếp tục được bầu bởi cử tri, nhiệm kỳ năm năm, được quy định về số lượng đại biểu. Ở cấp xã: giới hạn mức 15–35 đại biểu tùy theo số dân, ít nhất 15 đại biểu thuộc về xã miền núi, vùng cao và hải đảo có từ 1.000 dân trở xuống,[35] cao nhất thuộc về xã có trên 4.000 dân thì cứ thêm 2.000 dân được bầu thêm một đại biểu, phường có trên 8.000 dân thì cứ thêm 4.000 được bầu thêm một đại biểu.[36] Ở cấp huyện: giới hạn mức 30–45 đại biểu, ít nhất của huyện miền núi, vùng cao, hải đảo có từ 40.000 dân trở xuống, thị xã dưới 70.000 dân, quận, huyện bình thường dưới 80.000 dân, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương dưới 100.000 dân,[37] cao nhất ở đơn vị cấp huyện có từ 30 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc trở lên.[e][38] Bầu cử ở cấp tỉnh tương tự với mức giới hạn là 50–105 đại biểu. Hội đồng nhân dân bảo đảm thi hành Hiến pháp 2013 và pháp luật; xây dựng chính cơ quan mình và cơ quan hành chính là ủy ban nhân dân, cụ thể là bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh nhất định như Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Trưởng ban, Phó Trưởng ban của Hội đồng nhân dân, Chánh Văn phòng, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các Ủy viên Ủy ban nhân dân, và Hội thẩm Tòa án nhân dân riêng cho cấp tỉnh, huyện. Bên cạnh đó là quyết định thành lập, bãi bỏ, biên chế nhân sự cho cơ quan chuyên môn, đơn vị trực thuộc ủy ban nhân dân tỉnh; quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia thôn, tổ dân phố, đặt tên, đổi tên thôn, tổ dân phố, đường, phố, quảng trường, công trình công cộng ở địa phương. Cơ quan này phụ trách việc đưa ra quyết định về kế hoạch, biện pháp cho tất cả các lĩnh vực thuộc quyền lực nhà nước trên địa bàn,[f] theo hình thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật.[39]

Ủy ban nhân dân gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên được hội đồng nhân dân bầu, phụ trách xây dựng, trình các dự án cho tất cả lĩnh vực quản lý nhà nước, đồng thời chấp hành thực hiện các quyết định đã được ban hành này. Cơ quan này ngoài thể chế tập thể còn hoạt động theo thể chế thủ trưởng, theo đó, chủ tịch là người đứng đầu, lãnh đạo cũng như chịu trách nhiệm toàn diện đối với chính cơ quan mình và cơ quan cấp dưới, ngoài ra, có quyền điều động, đình chỉ công tác, cách chức các lãnh đạo cấp dưới trực tiếp, cũng như đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ văn bản trái pháp luật của cơ quan nội bộ hay cấp dưới trực tiếp.[40]

thành phố trực thuộc trung ương, hội đồng nhân dân có tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn nhiều hơn so với các đơn vị khác.[41] Theo đó, cơ quan này có thêm các quyền gồm: quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của thành phố, bao gồm cả quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các quận, phường trực thuộc; quyết định quy hoạch về xây dựng và phát triển đô thị trong phạm vi được phân quyền; quyết định các biện pháp phát huy vai trò trung tâm kinh tế – xã hội của đô thị lớn trong mối liên hệ với các địa phương trong vùng, khu vực và cả nước; và quyết định các biện pháp quản lý dân cư ở thành phố, tổ chức đời sống dân cư đô thị, điều chỉnh dân cư theo quy hoạch. Tổ chức của cơ quan này có thêm ban đô thị, được lý giải là những đô thị tập trung, có quy mô lớn, mức độ đô thị hóa cao và có nhiều điểm đặc thù khác với các địa bàn đô thị thị xã, thành phố thuộc tỉnh; và có tối đa 105 đại biểu để phù hợp với quy mô dân số, đặc điểm, tính chất của đô thị lớn ở Hà Nội, và Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều nhất cả nước.[42]

Phân cấp, phân quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Việc phân quyền được hiểu là giao quyền lực nhà nước cho chính quyền địa phương, dựa trên các quy định luật định.[43][44] Theo đó, chính quyền địa phương tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền trong địa phận lãnh thổ mà mình quản lý, và chịu sự thanh tra, kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp bởi cấp trên. Những vấn đề liên quan đến phạm vi từ hai đơn vị hành chính cấp xã trở lên thì thuộc thẩm quyền giải quyết của chính quyền địa phương cấp huyện; phạm vi từ hai đơn vị hành chính cấp huyện trở lên thì thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh; và từ hai đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên thì thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan nhà nước ở trung ương.[45] Việc phân cấp được hiểu là chính quyền trung ương hoặc địa phương giao nhiệm vụ và quyền hạn cho địa phương, cơ quan cấp dưới. Khi phân cấp, cấp trên phải bảo đảm các nguồn lực và điều kiện cần thiết khác để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình phân cấp, hướng dẫn, kiểm tra quá trình hoạt động này và chịu trách nhiệm về kết quả; còn cấp dưới được phân cấp chịu trách nhiệm trước cấp trên về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp.[46] Căn cứ tình hình cụ thể ở địa phương, cơ quan nhà nước ở địa phương có thể phân cấp tiếp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được cấp trên phân cấp nhưng phải được sự đồng ý của cấp trên đó.[47] Ngoài ra, vấn đề liên quan là ủy quyền, trong trường hợp cần thiết, cấp trên có thể ủy quyền bằng văn bản cho ủy ban nhân dân cấp dưới hoặc chủ thể khác thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong khoảng thời gian xác định kèm theo các điều kiện cụ thể.[48] Các vấn đề về bảo đảm nguồn lực, điều kiện cũng như trách nhiệm của ủy quyền tương tự với phân cấp, tuy nhiên, có một điểm khác là cấp dưới nhận ủy quyền không được ủy quyền tiếp cho chủ thể khác, trong khi cấp dưới nhận phân cấp có thể tiếp tục phân cấp.[49]

Sửa đổi, bổ sung[sửa | sửa mã nguồn]

So với Luật 2003[sửa | sửa mã nguồn]

Luật này tăng hai chương và ba điều so với Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003. Về đơn vị hành chính và tổ chức, luật bổ sung thêm thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt;[50] quy định cấp chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính đều phải có hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân,[g][51] có sự phân biệt giữa chính quyền địa phương ở nông thôn và ở đô thị, tức chia thành chương riêng biệt; chia thẩm quyền thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính giữa trung ương và địa phương.[52] Về nhiệm vụ, quyền hạn: hội đồng nhân dân được quy định rõ hơn về cơ cấu tổ chức, các chức danh Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện (số lượng là hai) và Phó Chủ tịch cấp xã (số lượng là một) hoạt động chuyên trách, trưởng các ban của cấp tỉnh, huyện có thể hoạt động chuyên trách, còn cấp phó ban cấp tỉnh, cấp huyện phải hoạt động chuyên trách, cấp xã thì hoạt động kiêm nhiệm.[53] Với ủy ban nhân dân, không phải một số như Luật 2003 mà tất cả người đứng đầu các cơ quan chuyên môn của cơ quan này đều là ủy viên, được bầu, lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm bởi hội đồng nhân dân, và quy định số lượng chức danh lãnh đạo theo từng loại địa phương; bổ sung những điểm mới nhằm quy định chi tiết hơn về số lượng, cơ cấu thành viên ủy ban nhân dân, nguyên tắc hoạt động, phiên họp, phạm vi, trách nhiệm giải quyết công việc của các thành viên, quy định số lượng Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp theo phân loại đơn vị hành chính.[54] Ngoài ra, luật quy định mới về Ban Dân tộc của Hội đồng nhân dân, rằng Quốc hội giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định cụ thể tiêu chí, tiêu chuẩn thành lập cơ quan này; quy định mới về ban của hội đồng nhân dân cấp xã, gồm Ban Pháp chế và Ban Kinh tế – Xã hội, trưởng, phó và các thành viên khác của hai ban này hoạt động kiêm nhiệm.[55]

2019[sửa | sửa mã nguồn]

Trong quá trình thực thi giai đoạn 2016–18, đã có những đề xuất yêu cầu tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương theo hướng quy định tiêu chí thành lập tổ chức,[56] sắp xếp tinh gọn đầu mối, giảm cấp trung gian, quy định hợp lý số lượng cấp phó của tổ chức,[57] giảm hợp lý số lượng đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương các cấp,[58] thực hiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XII.[59] Theo đó, ban soạn thảo dự án sửa đổi bổ sung luật này và Luật Tổ chức Chính phủ 2015 được thành lập năm 2019, xây dựng rồi trình Quốc hội.[60][61] Đến ngày 22 tháng 11 năm 2019, tại kỳ họp thứ tám, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương, chính thức có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2020.[62] Luật 2019 đã sửa đổi, bổ sung 38/143 điều của Luật 2015, quy định rõ khi thực hiện phân cấp, phân quyền phải gắn với hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân; bảo đảm các điều kiện về ngân sách, nguồn nhân lực và các điều kiện cần thiết khác cho việc thực hiện; quy định cụ thể các trường hợp được thực hiện phân cấp, ủy quyền để tránh việc phân cấp, ủy quyền tràn lan.[63] Về mô hình tổ chức chính quyền địa phương, Luật 2019 khẳng định chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của Việt Nam phải phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, SAEU;[64] quy định rằng chính quyền địa phương ở quận, phường là cấp chính quyền địa phương (có hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân), có thể không phải là cấp này nếu Quốc hội quy định; và trường hợp đơn vị hành chính cấp huyện ở hải đảo chia thành các đơn vị hành chính cấp xã thì tại đơn vị hành chính cấp xã tổ chức cấp chính quyền địa phương.[65] Về hội đồng nhân dân, Luật 2019 bổ sung tiêu chuẩn về quốc tịch đối với đại biểu, theo đó, quy định có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam,[66][67] giảm khung số lượng đại biểu từ 10% đến 15% ở từng loại hình đơn vị hành chính.[68][69] Luật 2019 bỏ quy định Chánh Văn phòng trong Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và quy định rõ số lượng Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, chức danh cấp xã; quy định rõ nếu Trưởng ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh hoạt động chuyên trách thì có một Phó Trưởng ban, nếu không chuyên trách thì có hai Phó Trưởng ban; bổ sung thẩm quyền của hội đồng nhân dân cấp xã thông qua kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội hằng năm của cấp xã (do ủy ban nhân dân cấp xã xây dựng) trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt.[70] Ngoài ra, Luật 2019 còn bổ sung quy định về trách nhiệm của đại biểu hội đồng nhân dân với cử tri, về tiếp xúc cử trị và thôi làm nhiệm vụ đại biểu; về tổ chức lại các đơn vị hành chính không đạt tiêu chuẩn theo quy định; và về bộ máy giúp việc của chính quyền địa phương.[71]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt (Special Administrative-Economic Units, SAEU) được xây dựng ở Luật Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt theo dự án đặc khu kinh tế Việt Nam, đề xuất cho ý kiến ở kỳ họp thứ năm, tháng 6 năm 2018, của Quốc hội khóa XIII, tuy nhiên không được thông qua.[1]
  2. ^ Luật 2003 (số ký hiệu: 11/2003/QH11) được ban hành vào ngày 26 tháng 11 năm 2003, thay thế cho Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (sửa đổi) ngày 21 tháng 6 năm 1994.
  3. ^ Tính đến năm 2022, các đơn vị hành chính cấp tỉnh loại đặc biệt là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh; loại I gồm Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Gia Lai, Đắk Lắk, và Đồng Nai.
  4. ^ Số lượng đại biểu cấp huyện, xã được tinh giảm năm 2019 bởi Luật số 47/2019/QH14, trong khi bầu cử ở cấp tỉnh với mức giới hạn là 50–105 đại biểu được giữ nguyên cho đến nay,
  5. ^ Với trường hợp đơn vị cấp huyện có trên 30 đơn vị cấp xã, mức đại biểu tối đa là 45 do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.
  6. ^ Các lĩnh vực là: kinh tế, tài nguyên, môi trường, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế, lao động và thực hiện chính sách xã hội, dân tộc, tôn giáo, quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.
  7. ^ Thí điểm đơn vị hành chính quận, huyện, phường không có hội đồng nhân dân theo Nghị quyết số 26/2008/QH12 của Quốc hội Việt Nam khóa XII, và Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Vân Thanh (ngày 9 tháng 6 năm 2018). “Chưa thông qua Dự án Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt tại kỳ họp Quốc hội lần này”. Thành phố Hồ Chí Minh. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2022.
  2. ^ Trần Ngọc Đường (ngày 10 tháng 3 năm 2021). “Xây dựng chính quyền địa phương theo Hiến pháp năm 2013”. Tạp chí Cộng sản. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2022.
  3. ^ Vũ Anh Tuấn (2014), tr. 40.
  4. ^ Hoàng Thị Ngân (2014), tr. 34.
  5. ^ Võ Hải (ngày 4 tháng 5 năm 2015). “Cử tri Hà Nội: HĐND mang nặng tính hình thức”. VnExpress. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2022.
  6. ^ Hoàng Thị Ngân (2014), tr. 35–36.
  7. ^ Hiến pháp 2013 Lưu trữ 2021-06-14 tại Wayback Machine, Điều 52.
  8. ^ Hiến pháp 2013, Điều 110.
  9. ^ Hiến pháp 2013, Điều 111.
  10. ^ Hiến pháp 2013, Điều 112.
  11. ^ Vũ Anh Tuấn (2014), tr. 41.
  12. ^ Nguyễn Minh Đoan (2014), tr. 38.
  13. ^ Nguyễn Minh Đoan (2014), tr. 39.
  14. ^ Văn kiện Đại hội X (2006), tr. 254.
  15. ^ Vũ Thy Huệ (ngày 12 tháng 8 năm 2013). “Việc thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, huyện, phường”. Nội chính Trung ương. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2022.
  16. ^ Phùng Việt Dũng (ngày 3 tháng 11 năm 2013). “5 năm thực hiện thí điểm bí thư cấp uỷ đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân”. Xây dựng Đảng. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2022.
  17. ^ Đoàn Trường Thụ; Hoàng Thị Thảo (ngày 8 tháng 9 năm 2021). “Mô hình chính quyền đô thị và cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Nẵng”. Tạp chí Cộng sản. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2022.
  18. ^ Văn kiện Đại hội XI (2011), tr. 251.
  19. ^ Nhật Nam (ngày 7 tháng 7 năm 2014). “Bộ Nội vụ tổ chức Hội thảo góp ý Dự án Luật Tổ chức chính quyền địa phương”. Tạp chí Tổ chức Nhà nước. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2022.
  20. ^ Huy Anh (ngày 1 tháng 10 năm 2014). “Nhân dân sẽ giám sát chính quyền khi không tổ chức hội đồng nhân dân”. Bộ Tư pháp. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2022.
  21. ^ Ngọc Anh (ngày 1 tháng 10 năm 2014). “Xây dựng Luật tổ chức chính quyền địa phương phù hợp Hiến pháp”. Tạp chí Cộng sản. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2022.
  22. ^ Ngọc Thành (ngày 19 tháng 6 năm 2015). “Quốc hội thông qua Luật Tổ chức Chính quyền địa phương”. VOV. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2022.
  23. ^ Lệnh 55/2015/L-CTN Lưu trữ 2022-06-16 tại Wayback Machine.
  24. ^ Hoàng Diên (ngày 31 tháng 12 năm 2015). “10 Luật có hiệu lực từ 1/1/2016”. Báo Chính phủ. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2022.
  25. ^ Luật 77/2015/QH13, Điều 141: Hiệu lực thi hành.
  26. ^ Luật 77/2015/QH13, Điều 142: Điều khoản chuyển tiếp.
  27. ^ Lương Thị Thu Hương (2022), tr. 99–100.
  28. ^ Luật 77/2015/QH13, Điều 2: Đơn vị hành chính.
  29. ^ Luật 77/2015/QH13, Điều 131: Lấy ý kiến Nhân dân địa phương về việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính.
  30. ^ Lương Thị Thu Hương (2022), tr. 102.
  31. ^ Luật 77/2015/QH13, Điều 132: Hội đồng nhân dân thông qua đề nghị thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính.
  32. ^ Luật 77/2015/QH13, khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 8.
  33. ^ Nguyễn Đặng Phương Truyền (2021), tr. 52.
  34. ^ Luật 77/2015/QH13, khoản 1 Điều 18; khoản 1 Điều 39.
  35. ^ Luật 77/2015/QH13, điểm a khoản 1 Điều 32.
  36. ^ Luật 77/2015/QH13, điểm c, d khoản 1 Điều 32; điểm b khoản 1 Điều 60.
  37. ^ Luật 77/2015/QH13, điểm 1, b khoản 1 Điều 25; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 53.
  38. ^ Luật 77/2015/QH13, điểm c khoản 1 Điều 25.
  39. ^ Nguyễn Đặng Phương Truyền (2021), tr. 54.
  40. ^ Luật 77/2015/QH13, Điều 22, 29, 36, 43, 50, 57, 64, và 71.
  41. ^ Lương Thị Thu Hương (2022), tr. 104.
  42. ^ Lương Thị Thu Hương (2022), tr. 105–106.
  43. ^ Nguyễn Sĩ Dũng (ngày 6 tháng 9 năm 2019). “Nên chọn phân quyền hay phân cấp?”. Báo Nhân dân. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2022.
  44. ^ Nguyễn Văn Cương (ngày 19 tháng 4 năm 2021). “Khái niệm, đặc điểm, bản chất của ủy quyền lập pháp”. Tạp chí Tòa án nhân dân. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2022.
  45. ^ Luật 77/2015/QH13, điểm đ khoản 2 Điều 11.
  46. ^ Vũ Thế Hoài (ngày 30 tháng 3 năm 2021). “Bàn về các quy định của pháp luật về phân cấp, ủy quyền trong quản lý đô thị và một số kiến nghị, đề xuất”. Kiểm sát. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2022.
  47. ^ Luật 77/2015/QH13, Điều 13: Phân cấp cho chính quyền địa phương.
  48. ^ Luật 77/2015/QH13, Điều 14: Ủy quyền cho cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
  49. ^ Hoàng Thị Ngân (ngày 13 tháng 1 năm 2022). “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phân cấp, phân quyền, ủy quyền trong quản lý hành chính ở Việt Nam”. Tạp chí Tổ chức Nhà nước. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2022.
  50. ^ Lê Minh Thông (ngày 16 tháng 3 năm 2021). “Một số vấn đề lý luận về mô hình tổ chức thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương”. Tạp chí Cộng sản. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2022.
  51. ^ Châu Quỳnh (ngày 3 tháng 1 năm 2018). “Chính quyền địa phương theo Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015”. Bộ Tư pháp. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2022.
  52. ^ Đỗ Anh (ngày 1 tháng 6 năm 2015). “Làm rõ khác biệt giữa chính quyền địa phương nông thôn và đô thị”. Kinh tế đô thị. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2022.
  53. ^ Chu Thanh Vân (ngày 14 tháng 10 năm 2020). “Bộ Nội vụ: Sắp xếp số lượng cấp phó theo đúng quy định của Chính phủ”. VietnamPlus. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2022.
  54. ^ Ngọc Điệp (ngày 24 tháng 7 năm 2014). “Cụ thể hóa sớm những điểm mới mang tính mở đường đổi mới thể chế chính quyền địa phương theo tinh thần Hiến pháp mới”. Tạp chí Tổ chức Nhà nước. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2022.
  55. ^ Lê Thị Hạnh; Lê Lan Anh (ngày 17 tháng 3 năm 2022). “Hoàn thiện tổ chức chính quyền đô thị ở Việt Nam hiện nay”. Quản lý nhà nước. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2022.
  56. ^ Nguyễn Đặng Phương Truyền (2021), tr. 55.
  57. ^ Hoàng Thùy (ngày 18 tháng 4 năm 2019). “Tranh luận về đề xuất giảm một Phó chủ tịch HĐND cấp tỉnh, huyện”. VnExpress. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2022.
  58. ^ Nguyễn Đặng Phương Truyền (2021), tr. 59.
  59. ^ Trương Thị Việt; Trần Thị Ngọc Khuyên (2022), tr. 124.
  60. ^ Trương Thị Việt; Trần Thị Ngọc Khuyên (2022), tr. 124–125.
  61. ^ Văn Tiến (ngày 18 tháng 4 năm 2019). “Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận về Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi)”. VOV. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2022.
  62. ^ Xuân Tùng (ngày 22 tháng 11 năm 2019). “Thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương”. Báo Tin tức. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2022.
  63. ^ Trương Thị Việt; Trần Thị Ngọc Khuyên (2022), tr. 128.
  64. ^ Trương Thị Việt; Trần Thị Ngọc Khuyên (2022), tr. 129.
  65. ^ Trần Long (ngày 19 tháng 4 năm 2019). “Vì sao phải sửa đổi Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương?”. Công an nhân dân. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2022.
  66. ^ Phan Anh (ngày 1 tháng 3 năm 2021). “Người ứng cử đại biểu Quốc hội phải ghi rõ chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam”. Báo Người lao động. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2022.
  67. ^ Thảo Lê (ngày 1 tháng 3 năm 2021). “Người ứng cử ĐBQH và HĐND phải ghi rõ đang có hoặc đang xin gia nhập quốc tịch nước khác”. Báo Tuổi trẻ. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2022.
  68. ^ Phong Vũ (ngày 21 tháng 4 năm 2021). “Nhiều điểm mới trong tổ chức của HĐND cấp tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026”. VietnamPlus. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2022.
  69. ^ Thu Phương (ngày 6 tháng 4 năm 2020). “Giảm số lượng đại biểu hội đồng nhân dân các cấp để bảo đảm sự tinh gọn, nâng cao chất lượng hoạt động của hội đồng nhân dân”. Quốc hội. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2022.
  70. ^ Đặng Minh Châu (ngày 21 tháng 5 năm 2021). “Những điểm mới trong bầu cử Quốc hội khóa XV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026”. Quân đội nhân dân (báo). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2022.
  71. ^ Bảo Yến (ngày 19 tháng 12 năm 2019). “Những điểm mới của Luật sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2019”. Quốc hội. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2022.

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]